Sign up

[ THƠ ] 24 January, 2012 14:31

 

 

Em rất sợ sự nhạt nhòa đơn giản

Cứ tuần hoàn như nhịp điệu thời gian

Hạnh phúc trong tay dễ dàng tuột mất

Ao ước một đời như mây khói vụt tan.

 

Em  rất sợ sự thưa thớt… rồi quên

Như kẻ hà tiện không nhớ nơi mình giấu của

Anh đi rồi để lại em với một trời giông tố

Rồi sẽ có ngày yêu tin khác thế thay!

 

Em rất sợ chiều nào như chiều nay

Trống vắng cô đơn một màu ảo não

Như ẩn tàng một cơn giông bão

Cuốn trôi đi những kỉ niệm êm đềm.

 

Em cũng sợ sợi tơ trời biến mất

Sẽ chẳng còn chi ràng buộc nữa anh

Rồi cứ thế ta trở về quên lãng

Bởi cuộc đời đâu đơn giản… thế mà anh?

 

 

[ THƠ ] 24 January, 2012 14:27


 

Trước thềm năm mới hiện ra

Niềm vui chợt đến vỡ òa trong em

Dặt dìu khúc nhạc dịu êm

Mùa xuân và cả niềm tin đong đầy!

 

 

[ THƠ ] 23 January, 2012 20:28

 

 

Tôi đã quen với những lời ru

Gọi giấc ngủ về mỗi tối

Tôi đã quen với những dòng tin

Như một nguồn an ủi.

 

Nhưng có một ngày bão nổi

Vì một làn gió… vẩn vơ

Thế là lung lay, thế là rệu rã

Tôi lại tập thói quen tự ru mình.

 

Rồi sẽ chẳng còn lời ru

Và yêu tin cũng hết

Tôi không muốn nói lời tiễn biệt

Nhưng vẫn phải tự ru mình để thành một thói quen.

 

[ THƠ ] 18 November, 2011 13:45

                                           (Yêu quý tặng các em SV Khoa Xã Hội - Du- Lịch)

 

 

             Chẳng ngôn ngữ nào diễn tả hết niềm vui

            Của những phút giây nối tình bè bạn

            Nhìn các em vui chơi, nói cười, hò hét

            Tôi gặp lại mình một thuở, ngày xưa…

 

            Được khẳng định mình, được chắp cánh ước mơ

            Được trải nghiệm những được thua, thành bại

            Tôi bỗng thấy lòng mình đang trẻ lại

            Theo tiếng reo hò cuồng nhiệt đến hụt hơi.

 

            Trận cầu chiều nay chỉ là một cuộc chơi

            Những lo lắng ưu tư trên giảng đường tan hết

            Tiếng trống dập dồn, tiếng vỗ tay không dứt

            Vun vút trái cầu như ảo thuật dưới sân…

 

            Đã chơi hết mình nên chả ai phân vân

            Giải thưởng có là chi? Chỉ cần thử sức

            Nhưng phần thưởng lớn các em có được

            Là những tấm lòng bè bạn vì nhau !

                                                     28-8-2011 

                                                         N.T.B

 

 

 

 

[ THƠ ] 25 October, 2011 16:51

  

          Có thể anh không biết?

          Mùa thu về heo may

          Em đợi hoài hôm ấy

          Ngẩn ngơ tàn lá bay.

 

          Có thể anh không biết?

          Trăng đã bớt nhạt nhoà

          Em một mình về lại

          Con đường ta đã qua.

 

          Có thể anh không biết?

          Trời đã vơi bão giông

          Em như mơ như thực

          Giữa đắng cay mặn nồng.

 

          Và…anh không thể biết?

          Em vẫn đợi vẫn chờ

          Gửi đêm niềm hy vọng

          Anh sẽ về…trong mơ!

      

[ PHE BINH VAN HOC ] 14 October, 2011 10:11

                                Điều kì diệu của tình yêu

(Cảm nhận về bài Thơ cho người mong gặp của Trần Mai Hường) 

                                                   Thơ cho người mong gặp 

          Có một ngày đá bỗng thấy nhớ nhung, nỗi nhớ vu vơ từ nơi nào xa lắm, mây như mướt hơn khoe trời ngọt nắng, ngọn gió mềm lay khẽ phím non tơ.

         Ngỡ qua rồi những run rẩy xa xưa, thời phấn trắng bảng đen tươi nguyên màu áo, tình yêu ngàn đời vẫn trái tim mách bảo, thuở tinh khôi lại chập chững tìm về.

          Em rưng rưng đón nhận đam mê, khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp, có phải anh thực hư hư thực, dan díu này mặc định những đa đoan.

          Đêm trống đêm em hờn giận thời gian mà thời gian thích đùa dai đến lạ, em như chấm buồm nhỏ nhoi giữa trùng trùng biển cả, nào biết dưới biếc xanh kia ẩn chứa những gì.

          Chợt bàng hoàng khi khép nhẹ hàng mi, ẩn hiện bóng hình người em mong gặp, biết đâu... biết đâu... ở một nơi xa lắm, anh cũng như mình...lặng lẽ...biết đâu...

 

Lời bình:

 

          Thơ cho người mong gặp- bắt đầu từ cái tên bài thơ đã lôi cuốn và gợi trí tò mò trong tôi. Đọc dòng thơ đầu, rồi những dòng tiếp theo, câu chữ, ý thơ cứ gọi mời, đan cài, níu kéo nhau theo mạch cảm xúc tuôn trào của một tình yêu rất đỗi thơ ngây và vô cùng trong trẻo. Đó là cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc Thơ cho người mong gặp của Trần Mai Hường. Đi sâu vào thế giới nghệ thuật của bài thơ, tôi càng thấy thú vị bởi cách dùng câu chữ, cách diễn đạt vừa giản dị vừa duyên dáng của thi sĩ.

          Câu thơ đầu tiên Trần Mai Hường đã làm cho người đọc chú ý bằng cách dùng từ rất lạ, có vẻ phi lý nhưng lại hoàn toàn có lý trong tình yêu: đá bỗng thấy nhớ nhung. Từ đá được dùng theo lối ẩn dụ chỉ trái tim con người đã đến độ trơ lỳ cảm xúc, hơn thế, từ đá còn được dùng theo lối nhân hoá chỉ trạng thái đột biến của tâm trạng. Có một tình yêu "sét đánh" chăng? Nếu không thì làm sao đá cũng thấy nhớ nhung được? Tôi tin là thế, hẳn là có một điều kì diệu đã và mới xảy ra, nên trái tim tưởng như hoá đá, ngủ quên đã bừng dậy, trở về với cảm giác tinh khôi của tình yêu đầu đời- tình yêu của một thời phấn trắng bảng đen tươi nguyên màu áo. Bắt đầu là nỗi nhớ, cho dù chỉ là nỗi nhớ vu vơ từ nơi nào xa lắm, nhưng đó mới chính là căn bệnh của tình yêu. Bởi tình yêu, nhiều khi cũng chỉ bắt nguồn từ những cái vu vơ và không sao lý giải nổi như vậy. Nhưng làm gì có ai đoán định trước được tình yêu? Thế nên, khi bắt gặp tín hiệu của tình yêu thì trong con mắt của kẻ đa tình, vạn vật xung quanh đều trở nên mới lạ: mây như mướt hơn khoe trời ngọt nắng, ngọn gió mềm lay khẽ phím non tơ. Một không gian trong trẻo, nên tho và tình tứ. Thiên nhiên, vũ trụ đều trở nên có hồn. Ai đó đã nói Tình yêu là nỗi đam mê không quy phục một điều gì, trái lại mọi thứ đều quy phục nó, có phải thế không mà tất cả như đồng thanh phụ hoạ cho điều kì diệu của tâm hồn khi tình yêu đột ngột đến?

          Ở hai câu thơ trên và trong cả bài thơ, tác giả hay sử dụng những từ chỉ thời gian quá khứ "xa lắm" và "xa xưa". Thông thường, cách dùng từ như thế là để nói về những cái đã qua khó trở lại. Nhưng ở trong trường hợp này, nó lại có ý nghĩa chỉ sự so sánh giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái đã qua và cái đã đến: tình yêu, để khẳng định một sự thật hiển nhiên: tình yêu ngàn đời vẫn trái tim mách bảo. Bởi thế cho nên, cảm giác "run rẩy" của tình yêu tinh khôi buổi đầu vẫn y nguyên. Chỉ có điều, cái cảm giác ấy đã được người thơ diễn tả rất khéo bằng từ chập chững kết hợp với   tìm về cho nên tạo được cảm giác tự nhiên chân thực cho người đọc.

          Hai câu thơ trên, mặc dù nhân vật trữ tình cố ẩn mình nhưng nỗi nhớ, sự đam mê thì không giấu nổi, tất cả đã phát lộ ra qua từng con chữ để rồi ngay câu thơ sau, sự đam mê đã đi đến tuyệt đích và đúng lúc này em xuất hiện để đối diện trực tiếp với tình yêu "sét đánh" như một lẽ tất nhiên: Em rưng rưng đón nhận đam mê, khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp, có phải anh thực hư hư thực, dan díu này mặc định những đa đoan.

          Có phải  tình yêu đến đột ngột quá và thiêng liêng quá nên người thơ không cần và không thể che giấu cảm xúc của mình? Từ rưng rưng diễn tả nỗi xúc động  nghẹn ngào không thể kìm nén của em. Trước anh, dường như em không điều khiển nổi con tim của mình. Nhưng ở đây đã có sự can thiệp tỉnh táo của lý trí một cách thật khó khăn để ngăn chặn cảm xúc đang dâng trào. Với lời thú nhận dễ thương: khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp, người thơ đã rất thật thà và táo bạo khi bộc bạch điều này. Cái hành động lùa tay qua làn áo mỏng hòng chế ngự cảm xúc ào ạt đang tuôn trào, mà lại chỉ khẽ thôi thì làm sao chặn được khi trái tim đã lỗi nhịp? Tôi bỗng nhớ đến câu nói của Tagor: "Hãy tin ở tình yêu dù nó mang đến sự thống khổ. Chớ khép kín con tim". Đúng vậy! Tình yêu và đau khổ luôn đồng hành, điều đó ai cũng biết nhưng sao ai cũng muốn dấn thân? Ở bài thơ này, người thơ cũng đã tiên lượng điều đó và chấp nhận dù biết: dan díu này mặc định những đa đoan. Từ mặc định có thể hiểu tình yêu của anh và em như một sự lập trình có sẵn không thể thay đổi. Cũng có thể hiểu tình yêu này cũng đồng nghĩa với những đa đoan em phải chấp nhận. Dù thế, không thể đi ngược lại quy luật của tình cảm, em đã chủ động đón nhận sự đam mê với tất cả tâm hồn và trái tim, bất chấp đa đoan mặc định, bất chấp đau khổ. Phải là một người mạnh mẽ, dám yêu và yêu hết mình mới có được sự đam mê cháy bỏng trong tình yêu như vậy. Nếu ai đã từng đọc thơ tình của Trần Mai Hường hẳn sẽ nhận thấy ở đây một sự đắm say chân thành- rất dịu dàng đáng yêu, nhưng cũng mạnh mẽ và không kém phần quyết liệt. 

          Nếu ở hai câu thơ đầu, nhà thơ đắm chìm trong thời gian cảm xúc thì ở  những câu sau, người thơ đã trở về với thời gian hiện tại để nếm trải những cung bậc hạnh phúc và đau khổ của tình yêu. Và khi ấy, sự thật thà sẽ càng thật thà hơn, sự đáng yêu sẽ càng đáng yêu hơn: Đêm trống đêm em hờn giận thời gian mà thời gian thích đùa dai đến lạ. Với câu thơ thứ ba thật duyên dáng, trẻ trung này, nhân vật trữ tình đã đem đến cho người đọc cảm giác dễ chịu bởi cách dùng từ rất mới lạ: Đêm trống đêm và cũng rất "trẻ con" khi yêu: hờn giận thời gian: Tôi rất thích cách lặp từ đêm ở đây và còn thích hơn khi tác giả dùng từ trống (chứ không phải từ trắng). Từ trống vừa diễn tả được thời gian hiện tại chậm chạp, kéo dài, vừa thể hiện sự cô đơn trống vắng của tâm trạng, và như vậy thời gian hiện tại đã biến thành thời gian tâm trạng với những khắc khoải mong nhớ và âu lo. Cùng với cách dùng từ: hờn giận thời gian; thời gian thích đùa dai... ta thấy, thời gian dưới con mắt của kẻ si tình đã trở thành đối tượng để trút hờn, trút giận một cách vô lý mà… có lý. Đắm chìm vào cõi yêu, người thơ vẫn tỉnh táo để ý thức đúng về thân phận:  em như chấm buồm nhỏ nhoi giữa trùng trùng biển cả, nào biết dưới biếc xanh kia ẩn chứa những gì.

          Sự so sánh giữa em như chấm buồm giữa mênh mông biển cả đã là một sự tương phản rồi, tác giả còn cụ thể hơn cái mong manh bé nhỏ, cô đơn và bất lực của em bằng từ láy nhỏ nhoi thì xem ra sự cô đơn sẽ càng cô đơn hơn, nhưng sự khao khát sẽ càng mãnh liệt hơn. Không chỉ là sự đắm mê tuyệt đích, mà vẫn có gì lo lắng đâu đây trước tình yêu đột ngột đến? Điều này thật dễ hiểu bởi đó chính là sự chân thật của tình yêu.

          Câu thơ kết khép lại tứ thơ và mở ra bao niềm hy vọng: Chợt bàng hoàng khi khép nhẹ hàng mi, ẩn hiện bóng hình người em mong gặp, biết đâu... biết đâu... ở một nơi xa lắm, anh cũng như mình...lặng lẽ...biết đâu...

          Không phải ngẫu nhiên mà hai lần anh xuất hiện đều ở trạng huống không thật rõ ràng, vừa thực vừa hư, dường như có dường như không vậy (có phải anh thực hư hư thực, ẩn hiện bóng hình người em mong gặp). Nhưng chính điều này đã cho ta hiểu rằng tình yêu mãnh liệt ấy đã đến với em. Vậy nên, anh luôn thường trực trong trái tim em, kể cả khi hàng mi khép lại, em chợt bàng hoàng nhận ra bóng hình anh luôn hiện hữu trong em cuộn cào da diết. Và em luôn tràn trề hy vọng ước thần giao cách cảm, anh cũng bắt được tín hiệu của em, như em: biết đâu... biết đâu... ở một nơi xa lắm, anh cũng như mình...lặng lẽ...biết đâu...

          Câu thơ này, với cách lặp từ biết đâu kết hợp với cách sử dụng dấu chấm lặng (…) kéo dài vừa diễn tả được những điều khó nói, vừa như nối dài thêm hy vọng. Bài thơ khép lại trong niềm hy vọng trong trẻo. Mong sao hy vọng của em  trở thành hiện thực và khi ấy, tình yêu sẽ được đáp đền tình yêu. Biết đâu…?

          Có phải tình yêu đến đột ngột là tình yêu lâu nguôi ngoai nhất? Tôi tin như vậy, ít nhất là trong trường hợp này.

          Bài Thơ cho người mong gặp của Trần Mai Hường là một bài thơ hay và   có kết cấu lạ. Cách dùng từ ngữ hình ảnh rất trau chuốt và trong sáng. Lắng lại trong từng câu chữ là một tình yêu nồng nàn đắm say và thanh khíêt. Chọn lối thơ văn xuôi để diễn tả cảm xúc chân thật đến ngây thơ của một người phụ nữ đang yêu, người thơ đã trải lòng mình trên từng con chữ để nói thật với mình, với mọi người về Điều kì diệu của tình yêu. Đó là điều rất cần cho cuộc sống mà mấy ai đã có được?

 

 

[ PHE BINH VAN HOC ] 11 October, 2011 08:07

Lời bình từ Truyện ngắn " Bí mật cuốn gia phả" của Vũ Xuân Tửu

                             (Tạp chí VNNB số 92- 5/2011) 

          Truyện ngắn "Bí mật cuốn gia phả" của Vũ Xuân Tửu có kết cấu khá lạ, lôi cuốn người đọc như một truyện trinh thám. Truyện xoay quanh mối quan hệ không bình thường giữa 3 nhân vật: Hộ (chủ gia đình)- Người khách lạ (một quân nhân) và Nụ (vợ Hộ- một phụ nữ xinh đẹp). Theo từng sự kiện hệ trọng, bí mật cuốn gia phả- bí mật về Thuận -đứa con nối dõi khỏe mạnh, thông minh cứ dần dần hé lộ…

           Biết mình không thể có con, Hộ đã phải suy nghĩ đến rạc người và âm thầm làm một việc trái khoáy "rước giai về nhà" cho vợ "thả cỏ". Tất cả đều được tính toán, sắp đặt kĩ càng tới từng chi tiết. Và kết quả của sự sắp đặt ấy thật mĩ mãn: Vợ chồng Hộ đã có một đứa con trai kháu khỉnh nối dõi. Câu chuyện hấp dẫn ở chỗ, ai cũng tưởng bí mật chỉ có ở riêng mình và ra sức ngụy trang cho điều bí mất ấy. Và như vậy cả 3 người đều phải sống trong bi kịch, phải dằn vặt, đấu tranh và đều phải hy sinh. Họ đều là những người tốt, sống vị tha, muốn đem niềm vui cho người khác, dẫu biết "lòng tốt có khi vô tình gây nên tội".

           Truyện có xin cho được mất. Nhưng chuyện xin, cho, được, mất đều được giải quyết thật khéo léo và ổn thỏa để những người trong cuộc bớt đi mặc cảm. Người khởi xướng chuyện bí mật này là Hộ. Anh chính là người chủ động "đi xin", là người chịu ơn mà không lúc nào được thanh thản, luôn phải sống trong tâm trạng "nước mắt chảy vào trong". Những tưởng sau khi tâm nguyện được thực hiện, anh là người vui nhất. Nhưng sự thật lại khác. Anh phải trải qua những đòn cân não khủng khiếp. Mọi âm thanh tiếng động đều làm anh tê tái cõi lòng. Nghe tiếng khóa thắt lưng lách cách của người khách, Hộ "tưởng như tiếng búa tạ giáng xuống đầu", thời gian như giãn ra nặng trĩu, đông đặc. Trải qua 9 tháng 10 ngày, cho đến khi đứa trẻ kháu khỉnh ra đời, rồi lớn lên, Hộ luôn sống trong tâm trạng dở khóc, dở cười, lầm lì, cáu gắt và nơm nớp lo sợ: "Hắn trở về đột ngột nhận con thì mình mất mặt". Cảm giác "tội lỗi" luôn đeo đẳng anh, kể cả khi anh "mừng như bắt được vàng", vì thật may đứa con có cùng nhóm máu. Thậm chí, khi nhìn thấy "quả ớt" của nó, Hộ giật bắn người, ngỡ như "nòng súng lục đang chĩa thẳng vào mình".

           Còn người vợ, chị cũng có cách ứng xử khá khôn ngoan. Khi hiểu ra sự việc, chị cũng phải trải qua một cuộc vận lộn quyết liệt về tâm lí vừa để không dập tắt hy vọng của chồng, vừa để mình không phạm vào tội "thất xuất" (theo quan niệm xưa). Từ người bị động, chị trở thành người chủ động và âm thầm phối hợp một cách khá ăn ý với "kế hoạch" bí mật của chồng theo kiểu "đâm lao thì phải theo lao". Để được đứa con nối dõi chị đã "mất chồng ngay trong ngôi nhà của mình" mà không dám hé răng.

          Về phía người "cho" là anh bộ đội. Mặc dù anh ý thức rất rõ rằng: giúp người là làm điều tội lỗi với gia đình, thậm chí cấp trên biết sẽ bị kỉ luật, không được ra chiến trường. Nhưng trước sự "chọn mặt gửi vàng" với lời khẩn cầu tha thiết và chính đáng của Hộ, anh đã bị đặt vào tình huống không thể chối từ. Lời nói, cử chỉ thái độ của anh với người phụ nữ xa lạ sau khi ân ái đã đem lại cho chị một hạnh phúc mãn nguyện. Không để lại tên tuổi địa chỉ, chỉ duy nhất chiếc đồng hồ Slava mạ vàng anh lặng lẽ để lại làm "kỉ niệm", cho thấy anh không phải là một kẻ qua đường hoặc là người "làm thuê". Anh biết trân trọng và nâng niu tình cảm và không  hề lạm dụng. Đó là điều giúp người phụ nữ được an ủi và giải thoát bởi "chữ trinh cũng có ba bảy đường".

           Một người gián tiếp cổ vũ cho bí mật này là vợ Chiến (tên người được "chọn mặt gửi vàng"). Chị cũng là một người bao dung nhân hậu. Sau khi nghe chồng thật thà kể lại chuyện "bí mật", giận dỗi thường tình qua đi, chị đã chủ động khuyên chồng làm việc nghĩa với một quan niệm đơn giản theo triết lý nhà Phật: "mình không phụ người thì trời không phụ mình". Kết quả của việc nghĩa đó là người bố đẻ đã ra tay gánh nạn cho con như một người nghĩa hiệp mà không ai biết quan hệ của họ vì sự trù tính rất nhân văn của người vợ khi chị khuyên chồng "cắt ngón sáu đi kẻo người ta phát hiện ra thì phiền".

          Câu chuyện kết thúc có hậu khi tác giả để cho gia đình ông Chiến chuyển vào Nam khi ông biết được chuyện tình yêu nảy sinh giữa Thuận và con gái rượu của ông- cả hai đều là con ruột của mình. Truyện sắp xếp và tạo dựng tình tiết khéo léo và có những chi tiết khá đắt: Chi tiết bàn tay trái sáu ngón, mùi mồ hôi dầu và chiếc đồng hồ Sla-va mạ vàng của anh bộ đội… là những bí mật của Nụ với người cha đẻ của đứa con mình. Những chi tiết ấy đã kết dính xâu chuỗi câu chuyện một cách bất ngờ nhưng hoàn toàn hợp lý tao sự hấp dẫn cho người đọc.

           Truyện ngắn " Bí mật cuốn gia phả" của Vũ Xuân Tửu mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Truyện không kết cấu theo mạch thẳng của thời gian mà theo kiểu thời gian đồng hiện gắn với sự kiện của từng tờ gia phả nên hấp dẫn người đọc. Truyện cũng còn một vài chi tiết, một vài lời thoại không thật sự cần thiết. Đây là một truyện ngắn hay, nhưng chỉ tiếc do kĩ thuật in ấn nên câu chuyện có quá nhiều lỗi.  Mặc dù vậy, những lỗi ấy không làm mất đi giá trị đích thực của câu chuyện.

 

 

 

 

 

 

[ PHE BINH VAN HOC ] 16 September, 2011 19:50

"Tâm sự nàng Thúy Vân"- Khát vọng tình yêu và hạnh phúc  

 

Nghĩ thương lời chị dặn dò

Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh

Chị yêu lệ chảy đã đành

Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim

 

Ơ kìa! Sao chị ngồi im

Máu còn biết chảy về tim để hồng

Lấy người yêu chị làm chồng

Đời em thề thắt một vòng oan khiên

 

Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên

Chị thương kẻ khuất, đừng quên người còn

Mấp mô số phận vuông tròn

Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!

 

Là em nói vậy thôi Kiều

Sánh sao đời chị ba chiều bão giông

Con đò đời chị về không

Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường

 

Chị nhiều hờn giận, yêu thương

Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò

Em chưa được thế bao giờ

Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim

 

Em thành vợ của chàng Kim

Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao

Giấu đầy đêm nối khát khao

Kiều ơi, em biết khi nào được yêu!

                  ( Trương Nam Hương)

Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du là tác phẩm sống mãi với thời gian. Có thể nói, từ xưa đến nay trong văn học Việt Nam, chưa có một tác phẩm nào có sức sống diệu kì đến thế. Từ khi ra đời đã gần ba thế kỉ mà mỗi trang Kiều "Đọc trăm lần vẫn trăm lần mới mẻ". Bởi thế, tác phẩm luôn là cảm hứng bất tận cho các thế hệ độc giả đồng sáng tạo.

Riêng với thế giới thi ca, Truyện Kiều là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn. Không thể thống kê hết có bao nhiêu bài thơ được lấy cảm hứng từ Truyện Kiều, chỉ biết rằng  nhiều  nhà thơ tên tuổi trong làng thơ Việt Nam đều đã hơn một lần lấy Truyện Kiều làm cảm hứng sáng tác. Trong điệp trùng các bài thơ đó, tôi rất thích bài thơ Tâm sự nàng Thúy Vân của nhà thơ Trương Nam Hương.  

Bài thơ được lấy cảm hứng từ nhân vật Thúy Vân. Thúy Vân trong Truyện Kiều mặc dù được miêu tả có vẻ đẹp "trang trọng khác vời" nhưng Vân chỉ là   nhân vật phụ, nhân vật làm nền cho Thúy Kiều- người tài sắc vẹn toàn "sắc đành đòi một, tài đành họa hai". Cũng bởi vậy, từ trước đến nay, Thúy Vân thường được người đời nhìn nhận và đánh giá có phần khắt khe và nghiệt ngã. Xưa kia, Vũ Trinh từng cho Thúy Vân là "ngu xuẩn", "Thúy Vân xuất hiện ba lần mà lần nào cũng trơ như hòn đá". Nhà thơ Vương Trọng cũng từng có cách nhìn khá hẹp hòi với Thúy Vân: Nhà có chuyện coi như người ngoài cuộc/ Vẫn ăn no ngủ kĩ như không…Nếu xét trên bề mặt tác phẩm thì cách nhìn nhận ấy có phần đúng. Vì trong Truyện Kiều, Nguyễn Du không dành một dòng nào để miêu tả Thúy Vân phải dằn vặt, đau đớn khi gia đình gặp tai họa, kể cả khi phải thay chị "chắp mối tơ thừa" với Kim Trọng, Vân cũng chỉ ngồi im và…chấp nhận. Nhưng có thật Thúy Vân vô tâm đến thế? Đặt mình vào tình cảnh của Thúy Vân, với lòng đồng cảm yêu thương và trân trọng, Trương Nam Hương đã thay lời Thúy Vân giãi bày nỗi đau mà nàng phải gánh chịu trong suốt mười lăm năm sống cảnh "tình chị, duyên em". Phải chăng đó cũng là cách để chiêu tuyết cho nàng?

Đọc Truyện Kiều không ai có thể phủ nhận sự hy sinh lớn lao của Thúy Kiều. Gia đình gặp tai biến, Kiều đã hy sinh tình yêu, hạnh phúc, hy sinh cuộc đời để làm tròn chữ hiếu, cậy nhờ em gá nghĩa với Kim Trọng để mong trọn chữ tình. Còn Thúy Vân? Với tấm lòng nhân hậu, nàng đã chấp nhận lời thỉnh cầu của chị để trở thành vợ của chàng Kim cũng là chấp nhận: Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh. Phải lấy người mình không yêu, là một thiệt thòi không thể bù đắp trong cuộc đời nàng. Vậy nên, ta dễ dàng thông cảm với nàng khi nàng nói lời hờn giận và trách cứ chị:

       Chị yêu lệ chảy đã đành

       Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim

Lời trách cứ nghe có vẻ nhẹ nhàng nhưng ngẫm ra vô cùng thấm thía. Nàng trách chị, trách số phận đã thắt chặt nàng vào cái vòng oan khiên của cuộc tình ngang trái "Lấy người yêu chị làm chồng". Nhớ lại đêm Thúy Kiều trao duyên cho Thúy Vân, Kiều đã hạ mình cậy nhờ em gái một việc thiêng liêng và hệ trọng: Trao duyên cho em, nhờ em chắp mối duyên tình với Kim Trọng. Xưa nay người ta chỉ nói trao tiền của, vật chất chứ chưa ai nói trao duyên bao giờ? Tình yêu vốn là thứ tình cảm thiêng liêng không thể dễ dàng trao gửi…Vậy mà Vân buộc phải nhận lời cậy nhờ của chị, thay chị "nối lời nước non" với Kim Trọng- người nàng không yêu. Điều đó cho ta thấy nàng cũng là một người vị tha, nhân hậu và giàu đức hi sinh. Sự hy sinh của nàng thật đáng trân trọng.

Trở lại với "Tâm sự nàng Thuý Vân" của Trương Nam Hương, ta càng thấu hiểu nỗi ẩn ức trong lòng Thúy Vân: 

       Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên

       Chị thương kẻ khuất, đừng quên người còn

       Mấp mô số phận vuông tròn

       Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!

Nỗi đau của Vân khác nào nỗi đau của Đạm Tiên và bao "số phận vuông tròn" khác trong xã hội xưa, mà đau nhất phải chăng là nỗi đau phải sống một cuộc sống vợ chồng không có tình yêu? Thật ra, số phận của Thúy Vân giống như số phận của bao người phụ nữ khác trong xã hội phong kiến. Về hôn nhân, họ phải chấp nhận sự sắp đặt của gia đình và số phận mà không có quyền lựa chọn hạnh phúc cho riêng mình. Và như vậy, may rủi trong tình yêu là điều không tránh khỏi. Đối với Thúy Vân, nàng chấp nhận cuộc sống vợ chồng với Kim Trọng chính là chấp nhận một sự hy sinh. Có thể, dưới con mắt người đời, Kim Trọng là một người chồng lý tưởng: "Phong tư tài mạo tót vời/ Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa". Vì thế, xét dưới góc độ gia đình, có vẻ như làm vợ chàng Kim, Thúy Vân đã có tất cả: Chồng làm quan, cuộc sống đủ đầy, con cái đề huề (Một cây cù mộc một sân quế hòe). Còn Thuý Kiều lại chẳng có gì. Nhưng xét dưới góc độ tình yêu, nếu đem so sánh với Thúy Kiều thì hình như Thúy Vân đã quá thiệt thòi: 

       Chị nhiều hờn giận, yêu thương

       Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò

       Em chưa được thế bao giờ

       Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim

Trương Nam Hương đã thật tinh tế khi để Thúy Vân nói ra những lời so bì, hờn giận, trách móc hay nói đúng hơi đó là khát vọng mãnh liệt của tâm hồn thiếu nữ là được yêu và "đòi yêu". Nàng trách chị cũng là tự biện hộ cho nỗi khổ của mình, cho nên sợ mình "quá lời", nàng an ủi chị:

       Là em nói vậy thôi Kiều

       Sánh sao đời chị ba chiều bão giông

Lời tâm sự của nàng Vân thật chí tình, chí nghĩa. Vân thấu hiểu sự hy sinh lớn lao của chị cho gia đình để bây giờ: "Con đò đời chị về không". Nhưng nàng cũng "ghen" với chị vì dù sao chị cũng được "nhiều hờn giận, yêu thương", được tình yêu của Thúc Sinh, Từ Hải và đặc biệt được độc chiếm tình yêu của Kim Trọng. Như vậy, về tình yêu, Kiều dường như đã có tất cả. Còn Vân, nàng như người về không. Tình yêu với nàng mãi mãi chỉ là một niềm khao khát. Cái gia đình "đề huề "mà nàng đang có kia, xét ở góc độ nào đó, có thể là hiện hữu của hạnh phúc. Nhưng xét theo quy luật của tình cảm thì hình như không phải vậy. Cuộc hôn nhân của nàng là hôn nhân gán ghép. Hôn nhân thuận theo sự cậy nhờ của chị, vì thương chị mà phải "chịu lời", "chắp mối duyên thừa" với Kim Trọng. Nàng hiểu tình yêu Kim- Kiều là tình yêu thiêng liêng đẹp đẽ không gì chia cắt. Trong lòng Kim Trọng chỉ có một tình yêu với Thúy Kiều. Vậy nên, chàng Kim sẵn sàng từ bỏ công danh sự nghiệp và cả gia đình để có được tình yêu ấy: "Rắp mong treo ấn từ quan/ Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha/ Dấn mình trong áng can qua/ Vào sinh ra tử họa là thấy nhau".  Sống cùng mái nhà với một người chồng hờ hững như vậy làm sao Thúy Vân có được hạnh phúc? Ta hình dung nỗi cô đơn trống trải của một người phụ nữ khi đêm ngày phải giấu đi, phải chôn chặt nỗi khát khao rất đời thường để làm tròn trách nhiệm và bổn phận của một người vợ theo đúng nghĩa, trong khi trái tim chồng luôn hướng về người khác:

       Em thành vợ của chàng Kim

       Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao

       Giấu đầy đêm nối khát khao

        Kiều ơi, em biết khi nào được yêu!

Khát khao được yêu đến cháy bỏng của Thúy Vân sẽ mãi chỉ là khao khát. Nàng chỉ là người đi bên lề của tình yêu mà chưa bao giờ chạm tay vào được tình yêu: Tình chị- chồng em là nghịch cảnh mà nàng phải đeo đẳng để Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh. Dẫu là "tình máu mủ " nhưng vẫn chẳng thể "thay lời non nước". Vì thế, trong bữa tiệc đoàn viên, Thúy Vân đã bộc bạch tất cả những dồn nén, tích tụ trong cuộc sống làm vợ (theo sắp đặt) mười lăm năm qua, để trả lại chồng cho chị, và cũng là giải thoát nỗi bất hạnh cho cuộc hôn nhân không tình yêu của mình. Điều đó cho thấy Thúy Vân không hề vô tâm mà trái lại nàng vô cùng cao thượng  và vị tha.

 Với lòng đồng cảm sâu sắc, Trương Nam Hương đã hóa thân vào nhân vật Thúy Vân- một nhân vật còn có nhiều khen chê khác nhau để đem đến cho người đọc một hướng tiếp cận khác mới mẻ, nhân hậu về Thuý Vân trong chuyện tình tay ba Kim- Vân -  Kiều. Đem nhân vật xưa để soi xét bằng tình cảm, bằng suy nghĩ của người thời nay, âu cũng là một cách thể hiện sự chia sẻ và cảm thông sâu sắc của nhà thơ với nhân vật, và quan trọng hơn chính là để khẳng định thêm tính nhân văn cao cả của Truyện Kiều.

 

 

 

[ THƠ ] 14 September, 2011 10:37

                                                Giọt thời gian 

 

                             Lặng ngồi đếm giọt thời gian

                   Giọt rơi xuống đất, giọt tan vào lòng.

 

                             Giọt buồn góp lại thành sông

                   Cuốn phăng đi những tận cùng khổ đau.

                             Giọt vui như hạt mưa Ngâu

                   Nối sao cho được hai đầu chênh vênh?

                             Giọt thương làm của để dành

                   Lỡ mà quên mất…thôi đành đem cho.

                             Giọt hờn giận, giọt âu lo

                   Giọt nào hy vọng để cho riêng mình?

 

                             Câu thơ đổ quán xiêu đình

                   Cũng không giữ nổi giọt tình mỏng manh.

                             Thì thôi, phận bạc đã đành

                   Chỉ thương phận cỏ vừa xanh đã tàn.

 

                             Lặng ngồi nhấm giọt thời gian

                   Ngọt rơi xuống đất, chua tan vào lòng.

           

[ PHE BINH VAN HOC ] 11 September, 2011 15:08

Trái tim nhân hậu của người phụ nữ qua bài thơ"Người đàn bà thứ hai"

  

                             Người đàn bà thứ hai

 

                   Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con

                   Bởi trước con anh ấy là của mẹ

                   Anh ấy có thể yêu con một thời trai trẻ

                   Nhưng suốt đời anh yêu mẹ, mẹ ơi!

 

                   Mẹ đã sinh ra anh ấy ở trên đời

                   Hình bóng mẹ lồng vào tim anh ấy

                   Dẫu bây giờ con được yêu thế đấy

                   Con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai…

 

                    Mẹ đừng buồn những chiều hôm, những ban mai

                    Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ

                    Nhưng con chỉ là cơn gió nhẹ

                    Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh.

 

                    Con chỉ là cơn gió mong manh

                    Những người đàn bà khác có thể thay thế con trong tim anh ấy

                    Nhưng có một tình yêu âm ỉ cháy

                    Anh ấy chỉ dành cho mẹ, mẹ ơi!

 

                    Anh ấy có thể sống với con suốt cuộc đời

                    Cũng có thể chia tay trong ngày mai, có thể

                    Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ

                    Dù thế nào, con chỉ là người thứ hai…

                                                  (Phan Thị Vĩnh Hà )

 

Lời bình:

          Từ khi biết bài thơ này tôi đã rất thích. Mà không phải chỉ riêng tôi, rất nhiều người- nhất là phụ nữ đều yêu thích "Người đàn bà thứ hai" này, bởi vấn đề mà bài thơ đề cập đến khá nhạy cảm nên đã "đánh trúng" tâm lý của những người làm con, làm mẹ. Tôi là một phụ nữ đã từng làm dâu, làm mẹ chồng và giờ đây sắp làm bà nội nên càng thấu hiểu và vô cùng tâm đắc với lời tâm sự "gan ruột" của Phan Thị Vĩnh Hà qua bài thơ "Người đàn bà thứ hai". Với bài thơ này cô đã nói hộ những người làm con, làm mẹ bao điều muốn nói và… khó nói.

          Bài thơ "Người đàn bà thứ hai" của Phan Thị Vĩnh Hà viết về đề tài muôn thuở: nàng dâu- mẹ chồng. Nhưng nội dung bài thơ không nhằm thể hiện lòng biết ơn của con dâu đối với mẹ chồng "Mẹ sinh anh để bây giờ cho em" như bài thơ "Mẹ của anh" (Xuân Quỳnh). Bài thơ cũng không khai thác mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu như người ta vẫn nói, mà lại đề cập đến cách ứng xử đời thường  trong gia đình, khi có thêm thành viên mới - nàng dâu.

           Trong thực tế, khi nàng dâu mới xuất hiện, gia đình sẽ có rất nhiều xáo trộn, nhất là về mặt tình cảm. Nhiều khi tình cảm gia đình sẽ tốt lên rất nhiều khi nàng dâu biết trân trọng, xây đắp và dung hòa các mối quan hệ. Nhưng ngược lại, sự có mặt của nàng dâu sẽ làm đảo lộn và có thể phá vỡ tất cả…Vậy nên, vai trò của người con dâu- thành viên mới trong gia đình vô cùng quan trọng và quan trọng nhất khi nàng dâu ý thức đúng địa vị, thân phận của mình. Nhân vật chính - người con dâu được nói đến trong bài thơ đã làm được điều đó.

            Bài thơ mở đầu bằng lời an ủi chân thành và tha thiết của con dâu đối với mẹ chồng: Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con. Phải chăng đó là sự chuẩn bị về tâm lý để người mẹ đỡ hẫng hụt khi con trai đã không hoàn toàn thuộc về mẹ nữa? Hay đó chính là một hiện thực mà người mẹ phải chấp nhận? Điều đó cũng có phần đúng, nhưng sẽ đúng hơn khi ta hiểu đó chính là lời động viên khích lệ, là cái cớ để người con dâu giúp mẹ chồng củng cố thêm lòng tin yêu vững chắc đối với con trai của mẹ. Hơn thế, đó còn là cách cô thể hiện lòng yêu kính và biết ơn của mình đối với mẹ của anh.

          Từ lời thơ mở đầu rất gần gũi và tự nhiên ấy, người con dâu đã khéo léo thuyết phục mẹ chồng bằng cả lý lẽ và thực tế để khẳng định, dù thế nào Con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai…Vậy làm thế nào người con dâu có thể thuyết phục được mẹ? Làm thế nào để mẹ "đừng buồn", đừng cảm thấy chạnh lòng khi cô đang được anh ấy yêu đến thế? Tất cả đều được nhà thơ diễn đạt bằng hàng loạt, ngôn từ, hình ảnh giản dị, nhẹ nhàng, gần gũi như cuộc sống này vốn thế và cần phải thế.

          Bài thơ xoay quanh mối quan hệ giữa ba nhân vật: Con- Anh ấy và Mẹ. Trong đó anh (vừa là chồng vừa là con) luôn là nhân vật trung gian được đem ra đối sánh trong quan hệ giữa anh ấy với conanh ấy với mẹ, để cán cân tình cảm luôn luôn nghiêng về phía mẹ một cách tuyệt đối. Kể cả khi con được anh ấy yêu và nhớ, thậm chí: Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ. Nhưng tất cả những gì con có được từ anh đều là những tình cảm không chắc chắn, không mấy bền chặt. Từ "có thể" được tác giả sử dụng sáu lần và thường được đặt trước các từ ngữ, hình ảnh diễn tả mức độ tình cảm của anh ấy đối với con, đã cho ta hiểu rõ điều đó. Cho nên dẫu tình cảm của anh đối với con nồng thắm tới mức nào thì cũng chỉ ở dạng thức giả thiết (có thể), và không có gì đảm bảo chắc chắn:

                   Anh ấy có thể yêu con một thời trai trẻ

                   Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ

          Chua chát hơn, người con dâu còn ý thức được rằng:

                   Những người đàn bà khác có thể thay thế con trong tim anh ấy

                    Anh ấy có thể sống với con suốt cuộc đời

                   Cũng có thể chia tay trong ngày mai, có thể

          Nói ra điều ấy hẳn cô cũng rất đau lòng và không bao giờ mong muốn. Nhưng đó là sự thật. Bởi lẽ, vợ không lấy người này có thể lấy người khác. Lấy nhau rồi, người ta vẫn có thể chia tay (vì bất cứ lý do nào) để kiếm tìm hạnh phúc mới. Người con dâu trong bài thơ này cũng thấu hiểu điều đó và chuẩn bị sẵn tâm lý. Cô ý thức được rằng dù cô đang được anh yêu đến thế, nhưng những người đàn bà khác có thể thay thế cô trong trải tim anh bất cứ lúc nào. Thậm chí, anh có thể chia tay cô trong ngày mai, có thể. Một câu thơ với hai từ "có thể", đặc biệt từ "có thể" ở cuối câu, được đặt sau dấu phẩy càng nhấn mạnh thêm sự mong manh của tình chồng vợ. Đó cũng là một sự thật.

          Về phần mình người con dâu- nhân vật xưng con luôn ý thức đúng thân phận nên rất khiêm tốn và chừng mực. Cho dù cô đang được anh yêu, yêu rất nhiều nhưng cô hiểu đó chỉ là tình yêu của một thời trai trẻ và ở một thời điểm nhất định (bây giờ) mà chưa có gì đảm bảo chắc chắn anh sẽ yêu cô suốt đời. Thế nên, trong lòng cô rất hiểu và luôn xác định rõ rằng:

                     Dẫu bây giờ con được yêu thế đấy

                   Con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai…

và:

                   Con chỉ là cơn gió nhẹ…Con chỉ là cơn gió mong manh

          Cách dùng từ "con chỉ là" và" con cũng chỉ là" được dùng tới bốn lần cho ta hiểu rõ hơn người con dâu đã rất đúng khi ý thức được tình cảnh và vị trí của mình trong gia đình và cụ thể hơn đó là vị trí thứ hai trong trái tim anh ấy. Vị trí ấy còn được định vị một cách vững chắc sau khi cô đưa ra đầy đủ những lý lẽ khá chặt chẽ để khẳng định một lần nữa: Dù thế nào, con chỉ là người thứ hai…Điều đó có nghĩa, bất luận thế nào, mẹ luôn chiếm vị trí số một trong trái tim anh. Nói như thế không có nghĩa cô coi nhẹ tình cảm vợ chồng, không tin vào tình yêu của chồng. Cũng không phải cô quá đề cao mẹ mà thiêng liêng hóa tình mẫu tử. Những điều cô giãi bày, sẻ chia rất đúng với thực tế, đúng với tâm trạng và suy nghĩ của những người làm mẹ, làm con. Điều đó giúp ta hiểu vì sao bài thơ luôn là niềm yêu thích với độc giả.

          Sự khéo léo và tinh tế của người làm dâu trong bài thơ này là: cô luôn đặt tình yêu của anh với mình bên cạnh tình yêu của anh với mẹ như một sự đối lập. Từ "nhưng" được sử dụng tới bốn lần nhằm đối sánh giữa một bên là tình cảm nhất thời, rất mong manh, có thể thay đổi. Và một bên là tình cảm bền chặt, suốt đời  không bao giờ thay đổi. Điều đó cho thấy cô là một người biết lý lẽ và rất hiểu đạo lý. Là con, cô hiểu rõ công sinh thành, dưỡng dục của mẹ đối với anh, dòng máu, tình yêu của mẹ luôn chảy trong huyết quản của anh: Hình bóng mẹ lồng vào tim anh ấy. Thế nên, ở đâu, đi đâu, anh luôn tìm về với mẹ như về với cội nguồn, bởi một lẽ thật đơn giản: Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh. Với anh, tình mẫu tử là tình cảm bền chặt vĩnh viễn và thiêng liêng không gì có thể đánh đổi. Nói ra điều ấy, hẳn là người phụ nữ rất yêu chồng, hiểu chồng, nên cô luôn cảm nhận được: có một tình yêu âm ỉ cháy/ Anh ấy chỉ dành cho mẹ, mẹ ơi!.  Đó là lý do để cô khẳng định tới hai lần rằng: suốt đời anh yêu mẹ, mẹ ơi!. Trong khi cô cũng hiểu tình yêu của anh với cô (tình cảm vợ chồng) mong manh như làn gió nhẹ và có thể tan biến bất cứ lúc nào.

           Thật ra, tình chồng vợ và tình mẫu tử đều là những tình cảm phải trân trọng, nhưng đó là hai tình cảm khác nhau nên không thể đánh đồng, cũng không thể tách biệt rạch ròi. Sự tách biệt một cách tương đối giữa hai tình cảm này (như đã phân tích ở trên), cũng chỉ là một cách để các thành viên trong gia đình hiểu đúng vai trò, vị trí của mình mà hài hòa các mối quan hệ, làm cho tình cảm gia đình ngày càng tốt lên mà thôi.

          Bài thơ "Người đàn bà thứ hai" của Phan Thị Vĩnh Hà là một bài thơ hay và mang đậm chất nhân văn. Tuy những điều tác giả đề cập đến có thể không thật mới mẻ, trong suy nghĩ người ta vẫn hiểu, và trong thực tế vốn là như vậy, nhưng đọc lên ta vẫn thấy xúc động lạ kì? Bởi bài thơ được viết bằng một trái tim nhân hậu, bao dung, vị tha và một tình yêu đặc biệt đối với chồng và với chính người mẹ đã sinh ra anh. Bằng lời lẽ, hình ảnh giản dị và giọng thơ chân thành, tha thiết, Phan Thị Vĩnh Hà đã hóa thân làm người con dâu để đối thoại với mẹ chồng, với chồng và với độc giả về một vấn đề rất khó nói nhưng vô cùng ý nghĩa, đó là vấn đề nàng dâu mẹ chồng. Chính vì lẽ ấy, bài thơ sẽ mãi là hành trang cần thiết không chỉ cho những người làm con và làm mẹ.

                                                                     

[ PHE BINH VAN HOC ] 11 September, 2011 15:02

Mênh mang tình mẹ

 

          Mẹ là đề tài không bao giờ vơi cạn trong sáng tác thi ca. Mỗi nhà thơ, khi viết về mẹ đều muốn bày tỏ tấm lòng biết ơn đối với công lao sinh thành và dưỡng dục của mẹ. Bài thơ "Tình mẹ" của Đinh Hữu Niên cũng là một trong rất nhiều những bài thơ như thế:  

                                          Tình mẹ

 

                             Nâu sồng nhuộm mật phù sa

                             Bữa thơm hạt gạo chia ra mấy phần

                             Thương xa nối lại cho gần

                             Sóng đồng chiêm tiễn mấy lần con đi.

 

                             Cột mòn cánh võng thầm thì

                             Treo vào nỗi nhớ níu ghì bóng đêm

                             Ngọn tre cò kéo trăng lên

                             Hoẳm sâu hốc mắt ngóng miền xa xôi.

 

                             Chéo đan cỏ víu chân người

                             Đem bên lở đắp bên bồi hỡi sông

                             Nắng mưa lấp kín mặt đồng

                             Ngóng cây ba tháng cậy bông một ngày.

                               …..

                             Nén nhang cháy đỏ bàn tay

                             Biết đâu giờ gió heo may cuối mùa.

                                                    (Đinh Hữu Niên)

 

          Có điều đặc biệt là trong suốt bài thơ (ngoại trừ tiêu đề), tác giả không một lần dùng từ "mẹ" mà hình ảnh mẹ vẫn hiện lên sừng sững, chở che, bao bọc, nâng đỡ con trên mỗi bước đường đời.

          Câu thơ đầu tiên không trực tiếp miêu tả hình dáng mẹ mà chân dung mẹ vẫn hiện lên qua màu áo nâu sồng- màu áo quen thuộc giản dị của bà mẹ nông dân vùng đồng chiêm trũng. Nhưng dưới con mắt nhà thơ, màu áo nâu sồng được "nhuộm mật phù sa" của đồng bãi quê hương nên, nhuộm nắng và gió, nhuộm những vất vả nhọc nhằn lam lũ của mẹ. Chính vì thế câu thơ như càng khắc họa rõ nét hơn bóng dáng gần gũi, thân thương của mẹ.

           Hình dáng mẹ còn được đặc tả qua các chi tiết: "Hoẳm sâu hốc mắt" vì mỏi mòn ngóng con và "bàn tay"- nén nhang cháy đỏ, đêm ngày mẹ cầu khấn cho con bình yên trở về. Chỉ chừng ấy thôi, tác giả cũng dựng được hình hài gầy gò, tội nghiệp của mẹ. Nhưng điều mà nhà thơ muốn nói không phải là sự già nua, vất vả cơ cực qua hình dáng mẹ, mà chính là bức chân dung tinh thần của mẹ- là sức chịu đựng bền bỉ, là tấm lòng bao dung và tình thương vô bờ bến của mẹ cho những đứa con mang nặng đẻ đau của mình.

          Dựng bức chân dung tinh thần của mẹ, tác giả đã chú ý khai thác tất cả những cử chỉ, hành động làm nên tình mẹ:

                   Bữa thơm hạt gạo chia ra mấy phần

                   Thương xa nối lại cho gần

                   Sóng đồng chiêm tiễn mấy lần con đi

          Ẩn chứa bên trong dáng hình già nua, gầy gò của mẹ là tấm lòng yêu thương con vô bờ bến. Lòng thương con của mẹ trước hết được thể hiện ở sự nhường nhịn và san sẻ: "Bữa thơm hạt gạo chia ra mấy phần". Nhường nhịn san sẻ, chắt chiu là đức tính chung của tất cả các bà mẹ, nhưng để diễn tả điều ấy đối với người mẹ của mình người thơ đã  sử dụng một cách nói rất lạ: Bữa "thơm" chứ không phải bữa cơm. Từ "thơm" có thể hiểu đó là mùi thơm của hạt gạo quê, nhưng sẽ đúng hơn khi ta hiểu đó là tấm lòng thảo thơm là sự dành dụm chắt chiu của mẹ cho con với một mong muốn vô cùng giản dị: "Thương xa nối lại cho gần". Vậy nên "hạt gạo chia ra mấy phần " chính là cách nói hình tượng làm sáng tỏ hơn tình mẹ.

          Câu thơ tiếp theo: "Sóng đồng chiêm tiễn mấy lần con đi" cho ta hiểu rõ hơn sự vất vả hy sinh lặng thầm của mẹ. Mẹ cũng giống như muôn ngàn bà mẹ Việt Nam khác, âm thầm tiễn con ra trận và mỏi mắt chờ đợi con trở về. Một lần nữa nghệ thuật ẩn dụ và hoán dụ đồng thời được sử dụng để khẳng định thêm sự vĩ đại của người mẹ. Đồng chiêm không có sóng. Sóng ở trong lòng người mẹ.

          Nỗi nhớ con là tình cảm thường trực thẳm sâu trong lòng người mẹ. Hình ảnh "Cột mòn cánh võng thầm thì/ Treo vào nỗi nhớ níu ghì bóng đêm" cho ta hiểu nỗi nhớ và tình thương con của mẹ đã thành hình, thành khối trĩu nặng tưởng như có thể "níu ghì bóng đêm". Hình ảnh mẹ già "Hoẳm sâu hốc mắt " mỏi mòn ngóng những đứa con xa như tạc vào đêm tối mênh mông một vệt buồn thăm thẳm.

          Khổ thơ tiếp theo, các động từ mạnh liên tiếp được sử dụng (víu, lở, đắp, lấp) vừa có tác dụng cụ thể hóa hơn sự nhọc nhằn, nỗi mong mỏi, đợi chờ của mẹ, lại vừa diễn tả niềm hy vọng của mẹ đối với con qua hình ảnh "Ngóng cây ba tháng cậy bông một ngày". Để có được niềm hy vọng ấy, mẹ đã vất vả mưa nắng "lấp kín mặt đồng" và cần mẫn như dòng sông chở nặng phù sa "đem bên lở đắp bên bồi". Cách dùng từ trái nghĩa và đối lập ở khổ thơ này (lở-bồi, nắng- mưa, ba tháng- một ngày) càng cho ta hiểu rõ hơn tấm lòng người mẹ. Sự mong mỏi hy vọng của người mẹ được tác giả cụ thể hóa bằng cách nói dân gian "Ngóng cây ba tháng cậy bông một ngày" và như vậy cũng là một cách để ta hiểu  rõ hơn  tình mẹ.

          Hai câu cuối của bài thơ đã khép lại hình ảnh mẹ trong cái hữu hạn mong manh của kiếp người:

                                      Nén nhang cháy đỏ bàn tay

                             Biết đâu giờ gió heo may cuối mùa.

          Mặc dù vậy, nhưng ý thơ không khép mà mở ra một thế giới khác rộng  lớn bao dung và vô cùng đẹp đẽ. Đó là thế giới của tình mẹ. Tình mẹ sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người con.

          Hình ảnh người mẹ trong bài thơ hiện lên trong trí tưởng tượng của người đọc bằng một thân hình còm cõi già nua và tội nghiệp nhưng bên trong cái thân hình già nua còm cõi và tội nghiệp ấy là một sức chịu đựng bền bỉ, là tình thương  con vô bờ và niềm hy vọng mãnh liệt. Trong hình ảnh của mẹ vừa sáng lên những nét phẩm chất chung đẹp đẽ của các bà mẹ Việt Nam, vừa in đậm những nét riêng độc đáo. Đó là lí do giúp ta hiểu vì sao đã có muôn vàn bài thơ viết về mẹ nhưng "Tình mẹ" của Đinh Hữu Niên vẫn tạo được sự hấp dẫn cho người đọc.

          Xuyên suốt bài thơ là tình mẹ hay chính là tấm lòng người mẹ. Nói đến tình mẹ có lẽ không giấy bút nào tả hết. Bài thơ "Tình mẹ" của Đinh Hữu Niên có thể cũng chỉ nói được phần nào cái điều mình muốn nói về tình mẹ nhưng chỉ chừng ấy thôi cũng giúp ta hiểu rõ hơn tấm lòng người mẹ.

 

 

 

[ PHE BINH VAN HOC ] 02 September, 2011 21:16

Đi qua giấc mơ” là những cuộc tình buồn

(Nhân đọc truyện ngắn “Đi qua giấc mơ” của Đỗ Quyên Quyên

Tạp chí VNNB số 86, tháng11/2010)

 

Đi qua giấc mơ của Đỗ Quyên Quyên là một truyện ngắn có sức ám ảnh. Mở đầu câu chuyện là một giấc mơ chạy trốn những người đàn bà sau mỗi cuộc tình chóng vánh của nhân vật tôi- người kể chuyện. Từ giấc mơ khủng khiếp ấy tác giả đã dẫn dắt người đọc Đi qua giấc mơ bằng không gian vừa thực vừa ảo để đến với những chuyện tình buồn của Tôi, của mẹ của những người đàn ông đàn bà trong làng qua những câu chuyện hư hư, thực thực quanh hồ Mê…Và kết quả tất yếu của những cuộc tình ấy là gia đình tan nát, đàn bà trong làng chửa hoang, đàn ông người điên người mất tích không rõ lý do…

  Đi qua giấc mơ là một truyện ngắn có cốt truyện kép. Đan xen trong truyện tình ngang trái của nhân vật tôi là chuyện tình buồn của người mẹ. Hai cốt truyện đan cài và phụ hoạ cho nhau như là một sự trớ trêu của định mệnh.

 Hãy nói về chuyện của người mẹ: Chị là một là một phụ nữ đẹp nhất làng, đẹp tới mức sau đám cưới chị nhiều trai làng '' đảo điên, điên đảo", thất vọng bỏ làng mà đi…Nhưng cái đẹp của chị là một sự bất hạnh. Sau lần ra hồ Mê tắm tiên, chị bị làm nhục và phải chấp nhận lấy một người chồng dở điên một cách vội vàng "như một sự nương thân". Nhân vật xưng tôi trong truyện là kết quả của sự thật oan nghiệt ấy. Cô là đứa con không cha và mãi mãi không bao giờ biết mặt cha. Người chồng dở điên của mẹ mà cô gọi là bố cũng đột nhiên bỏ đi. Mẹ cô bị gia đình nhà chồng đối xử lạnh nhạt rẻ rúng như một sự đoạn tuyệt…Mẹ không cam phận ở vậy nuôi con, và một lần mẹ  bị bà nội bắt gặp khi đang "ăn nằm với một người đàn ông lạ trong nhà". Và cuối cùng dường như không chịu được cuộc sống "thiếu hơi đàn ông" và nhất là không chịu được "những âm thanh đục ngầu" của nội, mẹ đã bỏ cô ở lại để đi theo tiếng gọi của tình yêu. Tuổi thơ của cô đầy ắp những kỉ niệm buồn. 

  Chuyện tình của cô không giống như mẹ. Cô chủ động dâng hiến và đã đánh mất mùi hương lạ đặc biệt của cơ thể khi cô sớm trở thành đàn bà. Loài cây đã trừng phạt cô trong giấc mơ và loài hoa nắp ấm “như nữ sát thủ kiều diễm” mà người yêu của cô nói, không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà là một kết cục tất yếu. Cô ý thức rất rõ về sự buông thả và dấn thân của mình với một niềm tin vừa thơ ngây vừa lọc lõi. Cô tin vào tình yêu, tin vào lời hứa của anh- một người đã có vợ và cho rằng đó là hạnh phúc. Khi biết mình có thai với anh, cô đã rất hạnh phúc và luôn mơ ước và chăm chút cho hạnh phúc, tương lai của mình. Cô muốn con trai cô "sẽ có đôi mắt sáng của mẹ để chỉ toàn thấy những điều tốt đẹp, bàn tay rộng của bố để luôn vững vàng…" Cô đã quên mẹ và xóa hết những kí ức buồn về mẹ. Biết yêu anh là tội lỗi, biết là bị trừng phạt cô vẫn dấn thân vào. Hương cỏ mật ngọt lịm và loài hoa giun ngào ngạt và ma mị như phụ hoạ cho tình yêu tội lỗi của cô. Cuộc đời của mẹ và hành động buông thả của cô luôn là nỗi ám ảnh đi về trong những giấc mơ bị rượt đuổi bởi những người đàn bà mất chồng. Cô tự nhủ không lặp lại kí ức buồn của mẹ nhưng cô vẫn lăn xả vào tình yêu. Anh chính là con mồi cô đã bắt được. Mỗi khi bên anh cô luôn bị ám ảnh bởi ánh mắt của người đàn bà lạ và luôn có cảm giác tội lỗi "này là lẳng lơ, này là đĩ thõa"…

Nhưng tình yêu và sự đắm mê mù quáng của cô đã có được câu trả lời bằng sự đoạn tuyệt lạnh lùng của anh. Cô "Không muốn cướp hạnh phúc gia đình người khác, không muốn bó chân anh, không muốn đòi quyền lợi, chỉ muốn giữ lại kỉ niệm, chỉ muốn lần gặp cuối cùng ". Và lần gặp cuối cùng ấy cô đã chứng kiến cảnh: "người đàn bà mặc chiếc váy voan màu hồng màu san hô đang mỉm cười hạnh phúc khi anh tựa đầu vào bụng vợ âu yếm"  và khi đọc được lời của anh: "Em phá đi, anh không tới được đâu, vợ anh có thai, anh ở nhà chăm sóc cô ấy" thì tất cả trong cô đã vụn vỡ.

Không chỉ cô, mẹ cô vấp phải những cuộc tình buồn. Qua giấc mơ về những ma nữ dưới hồ gọi cô; những hình ảnh quảng cáo nhan nhản về nạo hút thai công nghệ cao; những đứa trẻ hình hài không nguyên vẹn; những người đàn bà rượt đuổi cô trong mơ… ta thấy hiện lên mặt trái của xã hội hiện đại, những chuyện như thế luôn là nỗi nhức nhối của toàn xã hội.

          Truyện ngắn “Đi qua giấc mơ” có kết cấu vòng tròn. Mở đầu câu chuyện là giấc mơ kinh sợ của nhân vật xưng tôi về một cuộc tình nông nổi đầy ngang trái. Trong câu chuyện giấc mơ luôn trở lại vừa để biện minh cho suy nghĩ và hành động của nhân vật chính, vừa để cảnh báo răn đe. Kết thúc truyện cũng là một giấc mơ- hậu quả của cuộc tình nông nổi và ngang trái ấy, nhưng là một giấc mơ có hậu. Chi tiết kể về những người đàn bà chửa hoang bị dán bùa lên người rồi đóng bè trôi sông, đến nỗi "sóng ở đáy sông nổi lên như muốn lật úp tất cả những chiếc bè trôi nổi", và chi tiết kể về người đàn bà mặc chiếc váy voan hồng màu san hô đến bên nhân vật tôi, "lột bỏ tấm bùa trên người, mang đứa con trong bụng ra ngoài rồi bế lên âu yếm" và "cả dòng sông lặng sóng" là những chi tiết đắt. Nó đã làm nhẹ đi sự nặng nề của cuộc tình buồn...

Chọn tình yêu, tình dục để  khai thác là một hướng đi táo bạo của Đỗ Quyên Quyên- một tác giả còn quá trẻ so với đề tài mà cô chọn. Mặc dù vậy, đi vào đề tài nhạy cảm này, ta thấy tác giả có lối viết khá già giặn và mới mẻ. Ở điểm nhìn nhân vật người kể chuyện, tác giả đã trải lòng và trải đời trên từng con chữ để phân tích mổ xẻ và cắt nghĩa cho những chuyện tình buồn, huyền bí quanh hồ Mê. Viết về tình yêu, tình dục là một đề tài không mới nhưng rất khó. Trong đời sông văn học những năm gần đây đề tài này thường được các tác giả khai thác với những chiều hướng thuận nghịch khác nhau và không phải ai cũng đễ được độc giả đón nhận. Với Đi qua giấc mơ, bằng lối kể chuyện từ ngôi thứ nhất, Đỗ Quyên Quyên đã thuyết phục được người đọc khi cô đã động chạm đến vấn đề về đạo đức, đó là lối sống buông thả đang là trào lưu phổ biến của lớp trẻ trong xã hội hiện đại, Qua đó phải chăng tác giả muốn rung lên một hồi chuông cảnh báo đối với lớp trẻ về những hậu quả nặng nề từ lối sống hiện đại ấy?

 

 

 

 

[ THƠ ] 09 August, 2011 09:11

                                    Mơ ước đi tìm

 

                   Mơ ước là gì mà khó thế anh ơi !

                   Một chút sẻ chia, nụ cười, ánh mắt

                   Là niềm tin giữa dòng đời bất tận

                   Có lẽ nào chỉ đợi ở trong mơ?

 

                   Mơ ước là gì mà người ta vẫn mơ

                   Dù cuộc sống có muôn vàn trắc trở

                   Mỗi lúc ấy ước mơ là điểm tựa

                   Quên hết buồn phiền. Hy vọng nhóm lên.

 

                   Mơ ước của em một cuộc sống bình yên

                   Mỗi sáng mỗi chiều bên nhau hạnh phúc

                   Giản dị thế thôi nhưng làm sao có được?

                   Nên đêm ngày cứ hoài đợi…ước mơ!

 

[ PHE BINH VAN HOC ] 31 July, 2011 14:21

"Cô tôi"- một giấc mơ buồn!               

                                    

Cô mơ về tuổi đôi mươi

Sướng gì đâu - giữa cái thời đạn bom

Cái thời xẻ dọc Trường Sơn

Bờ vai con gái chẳng sờn nắng mưa

Ngồi nghe cô kể: "ngày xưa…"

Hình như có cả giấc mơ xuân thì

Hình như có nỗi niềm chi

Cô đợi mãi một người đi không về.

Đêm đêm cô vẫn ngủ mê

Gọi tên ai giữa bộn bề tâm tư

Ố vàng những bức tình thư

Cô không khóc mắt lại như ướt nhòa

Bao nhiêu tháng lại, ngày qua

Tóc cô xanh thế thoắt ra trắng rồi

Vẫn một mình giữa đơn côi

Hoàng hôn buông xuống cô ngồi buồn hiu

Vẳng nghe tiếng đỗ quyên kêu

Lòng trinh nữ khóc giọt chiều mênh mang!

 

          Chiến tranh đã đi xa nhưng dư âm hào sảng và bi thương của nó vẫn còn hiện hữu đâu đó trong đời sống thường nhật của người Việt Nam. Nhất là những người được may mắn trở về từ cuộc chiến, thì dư âm ấy sẽ mãi là những kỉ niệm không thể nào quên về một thời "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" (Tố Hữu). "Cô tôi" trong bài thơ cùng tên của Phạm Tâm An là một trong muôn vàn trường hợp như thế! Bài thơ mở đầu bằng giấc mơ của một người phụ nữ đã từng đi qua chiến tranh:

Cô mơ về tuổi đôi mươi

Sướng gì đâu - giữa cái thời đạn bom

Cái thời xẻ dọc Trường Sơn

Bờ vai con gái chẳng sờn nắng mưa.

          Nói đúng hơn, đó là dòng hồi tưởng, là kí ức khó quên của Cô tôi- nhân vật trữ tình, về một thời đẹp đẽ của tuổi đôi mươi - tuổi đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời mỗi người. Ở lứa tuổi ấy, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, lớp lớp thanh niên đã lên đường tòng quân đánh Mĩ. Họ ra trận mang theo theo lý tưởng và niềm tin vào ngày chiến thắng. Cô tôi cũng có mặt trong dòng người ra trận ấy. Và ta hiểu, người phụ nữ này cũng có một thời oanh liệt để mỗi khi nghĩ lại chị luôn cảm thấy tự hào về Cái thời xẻ dọc Trường Sơn/ Bờ vai con gái chẳng sờn nắng mưa. Đó là cái thời ai đã đi qua đều ý thức được tính chất khốc liệt của chiến tranh- nơi sự sống và cái chết chỉ tính bằng gang tấc...Chính Cô tôi cũng ý thức được đó là cái thời bom rơi trên đầu, đạn cày dưới đất “sướng gì đâu”?. Nhưng sự ác liệt và dữ dội của chiến tranh cũng không thể làm mềm lòng, nhụt chí người ra trận dẫu họ là trai hay gái. Nghệ thuật hoán dụ: Bờ vai con gái đi liền với từ phủ định chẳng sờn nắng mưa đã làm sáng tỏ tinh thần: xẻ dọc Trường Sơn của người phụ nữ ấy.

          Quá khứ của một thời đạn bom với người phụ nữ ấy đã trở thành ngày xưa để mỗi khi nhớ lại, chị không khỏi bồi hồi nuối tiếc. Bởi vì, chính từ cuộc sống chiến trường gian khổ, chị đã có một tình yêu đẹp. Nhưng tình yêu ấy giờ đây đã trở thành vô vọng, là một giấc mơ không thành, bởi sự thật nghiệt ngã của chiến tranh: người ra đi đã không trở về…

          Nhưng chiến tranh vẫn có những điều may rủi. Hẳn là người phụ nữ trong bài thơ luôn tin vào sự may rủi ấy, cho nên ngày qua ngày, chị vẫn đợi, đợi mãi một người đi không về. Ngày đợi, đêm mong. Sự mong đợi mỏi mòn đã thường trực trong suy nghĩ của chị như một nỗi niềm riêng không thể giãi bày.

Đêm đêm cô vẫn ngủ mê

Gọi tên ai giữa bộn bề tâm tư

Ố vàng những bức tình thư

Cô không khóc mắt lại như ướt nhòa.

          Người mà “Cô tôi” đã ước hẹn dù chỉ được hiện lên gián tiếp qua sự hồi tưởng, qua những giấc mơ khắc khoải hằng đêm, nhưng ta vẫn hiểu đó là một người có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời chị. Những bức tình thư xưa kia vốn là cầu nối cho tình yêu của họ thì nay vẫn tồn tại như là nhân chứng cho tình yêu đẹp đẽ của một thời tuổi trẻ.  Và hơn thế, đó còn là chỗ dựa tinh thần giúp chị vượt qua những tháng ngày đằng đẵng…

Như vậy, sự mất mát về tinh thần của người phụ nữ ấy không hề nhỏ. Thời gian có thể hàn gắn những nỗi đau về vật chất nhưng không thể hàn gắn nỗi đau về tinh thần. Số phận của người phụ nữ ấy cũng giống như bao số phận của những người con trai, con gái khác trong thời chiến, họ cống hiến, hy sinh tuổi thanh xuân cho đất nước để rồi khi trở về chỉ còn lại một quá khứ vinh quang và một nỗi lòng hiu quạnh, đơn côi và trống trải. Tuổi đôi mươi đẹp nhất họ đã bỏ lại nơi chiến trường. Hơn ai hết, người phụ nữ ấy và đồng đội của chị đều ý thức được rằng:

          Chúng tôi ra đi không tiếc cuộc đời mình

          Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc?

          Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc.                     

                                                                     (Thanh Thảo)

          Nhưng ai ra trận thời ấy đều có một sự lựa chọn, dấn thân đầy tỉnh táo như vậy. Trong điệp trùng những đoàn quân ra tiền tuyến, có biết người đã không trở về… Người được may mắn trở về như “Cô tôi” thì cứ đợi, cứ sống với những kỉ niệm đẹp đẽ của một thời Xẻ dọc Trường Sơn… Những bức thư tình đã ố vàng bởi thời gian và nước mắt, những đêm dài triền miên với bộn bề tâm tư… Tất cả cứ lặp đi, lặp lại như một điệp khúc buồn. Sự đổi màu nhanh chóng của mái tóc người cô: Tóc cô xanh thế thoắt ra trắng rồi, vừa cho ta thấy sự đợi chờ kiên nhẫn bền bỉ của người phụ nữ, lại vừa làm toát lên sự hy sinh âm thầm ở chị.

          Người ta nói nước mắt có thể làm dịu bớt nỗi đau, nhưng với người phụ nữ này thì lại khác. Bao nhiêu năm qua, chị đã cạn khô nước mắt cho những mất mát riêng tư của mình. Cách nói hình tượng: Cô không khóc, mắt lại như ướt nhòa, đã cho ta thấy nỗi đau của người phụ nữ đã lên đến tột cùng! Những câu thơ cuối đã khép lại  tình cảnh trớ trêu của  người phụ nữ bằng một nỗi đơn côi đến rợn ngợp:

Vẫn một mình giữa đơn côi

Hoàng hôn buông xuống cô ngồi buồn hiu

Vẳng nghe tiếng đỗ quyên kêu

Lòng trinh nữ khóc giọt chiều mênh mang!

Chiến tranh và thời gian đã làm thay đổi bao nhiêu số phận con người nhưng với Cô tôi thì dường như không có gì thay đổi. Người phụ nữ ấy, từ khi tóc còn xanh, đến khi tóc bạc trắng, vẫn thủy chung với tình yêu đã thành bất tử của mình. Vẫn một mình giữa đơn côi với những kỉ niệm đã có của một thời đã qua, chị vẫn vẹn nguyên một tấm lòng trinh nữ. Tiếng chim đỗ quyên khắc khoải  như một điểm nhấn để nỗi buồn càng buồn hơn. Dù thế, chị vẫn sống với quá khứ, vẫn mơ về một giấc mơ không có hồi kết và mãi mãi là một giấc mơ buồn! Nỗi đau tích tụ, dồn nén trong lòng người phụ nữ được tác giả hình tượng hóa thành giọt đau của lòng trinh nữ trong chiều buồn thăm thẳm, mênh mang…

Bài thơ khép lại trong âm điệu buồn nhưng số phận của người cô- nhân vật trữ tình sẽ mãi còn ám ảnh trong tâm trí người đọc. Và như vậy, sự hy sinh thầm lặng của những người như người phụ nữ được nói đến trong bài thơ thật đáng được cảm thông và trân trọng!

“Cô tôi” là bài thơ viết về số phận và cảnh ngộ của một người phụ nữ trở về sau chiến tranh. Nhưng trong thực tế, ở một đất nước đã đi qua chiến tranh thì đó không chỉ là cảnh ngộ riêng trong phạm vi một gia đình, mà nó còn là nỗi buồn   chung của nhiều gia đình, nhiều số phận. Những nỗi đau về tinh thần như thế vẫn còn là những trăn trở, day dứt, khôn nguôi…

Phạm Tâm An là một nhà thơ trẻ chưa trải qua chiến tranh, nhưng tác giả lại có cách nhìn nhận về chiến tranh khá xác thực khi cô khai thác ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh thông qua số phận bi kịch của người cô trong gia đình. Phải chăng đó cũng là cách tác giả thể hiện lòng tri ân của mình với quá khứ, với những người đi trước đã không tiếc máu xương cho đất nước có được tự do độc lập ngày hôm nay?

 

[ PHE BINH VAN HOC ] 17 July, 2011 16:20

Trái tim nhân hậu của người phụ nữ qua bài thơ"Người đàn bà thứ hai"

  

                             Người đàn bà thứ hai

 

                   Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con

                   Bởi trước con anh ấy là của mẹ

                   Anh ấy có thể yêu con một thời trai trẻ

                   Nhưng suốt đời anh yêu mẹ, mẹ ơi!

 

                   Mẹ đã sinh ra anh ấy ở trên đời

                   Hình bóng mẹ lồng vào tim anh ấy

                   Dẫu bây giờ con được yêu thế đấy

                   Con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai…

 

                    Mẹ đừng buồn những chiều hôm, những ban mai

                    Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ

                    Nhưng con chỉ là cơn gió nhẹ

                    Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh.

 

                    Con chỉ là cơn gió mong manh

                    Những người đàn bà khác có thể thay thế con trong tim anh ấy

                    Nhưng có một tình yêu âm ỉ cháy

                    Anh ấy chỉ dành cho mẹ, mẹ ơi!

 

                    Anh ấy có thể sống với con suốt cuộc đời

                    Cũng có thể chia tay trong ngày mai, có thể

                    Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ

                    Dù thế nào, con chỉ là người thứ hai…

                                                  (Phan Thị Vĩnh Hà )

 

Lời bình:

          Từ khi biết bài thơ này tôi đã rất thích. Mà không phải chỉ riêng tôi, rất nhiều người- nhất là phụ nữ đều yêu thích "Người đàn bà thứ hai" này, bởi vấn đề mà bài thơ đề cập đến khá nhạy cảm nên đã "đánh trúng" tâm lý của những người làm con, làm mẹ. Tôi là một phụ nữ đã từng làm dâu, làm mẹ chồng và giờ đây sắp làm bà nội nên càng thấu hiểu và vô cùng tâm đắc với lời tâm sự "gan ruột" của Phan Thị Vĩnh Hà qua bài thơ "Người đàn bà thứ hai". Với bài thơ này cô đã nói hộ những người làm con, làm mẹ bao điều muốn nói và… khó nói.

          Bài thơ "Người đàn bà thứ hai" của Phan Thị Vĩnh Hà viết về đề tài muôn thuở: nàng dâu- mẹ chồng. Nhưng nội dung bài thơ không nhằm thể hiện lòng biết ơn của con dâu đối với mẹ chồng "Mẹ sinh anh để bây giờ cho em" như bài thơ "Mẹ của anh" (Xuân Quỳnh). Bài thơ cũng không khai thác mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu như người ta vẫn nói, mà lại đề cập đến cách ứng xử đời thường  trong gia đình, khi có thêm thành viên mới - nàng dâu.

           Trong thực tế, khi nàng dâu mới xuất hiện, gia đình sẽ có rất nhiều xáo trộn, nhất là về mặt tình cảm. Nhiều khi tình cảm gia đình sẽ tốt lên rất nhiều khi nàng dâu biết trân trọng, xây đắp và dung hòa các mối quan hệ. Nhưng ngược lại, sự có mặt của nàng dâu sẽ làm đảo lộn và có thể phá vỡ tất cả…Vậy nên, vai trò của người con dâu- thành viên mới trong gia đình vô cùng quan trọng và quan trọng nhất khi nàng dâu ý thức đúng địa vị, thân phận của mình. Nhân vật chính - người con dâu được nói đến trong bài thơ đã làm được điều đó.

            Bài thơ mở đầu bằng lời an ủi chân thành và tha thiết của con dâu đối với mẹ chồng: Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con. Phải chăng đó là sự chuẩn bị về tâm lý để người mẹ đỡ hẫng hụt khi con trai đã không hoàn toàn thuộc về mẹ nữa? Hay đó chính là một hiện thực mà người mẹ phải chấp nhận? Điều đó cũng có phần đúng, nhưng sẽ đúng hơn khi ta hiểu đó chính là lời động viên khích lệ, là cái cớ để người con dâu giúp mẹ chồng củng cố thêm lòng tin yêu vững chắc đối với con trai của mẹ. Hơn thế, đó còn là cách cô thể hiện lòng yêu kính và biết ơn của mình đối với mẹ của anh.

          Từ lời thơ mở đầu rất gần gũi và tự nhiên ấy, người con dâu đã khéo léo thuyết phục mẹ chồng bằng cả lý lẽ và thực tế để khẳng định, dù thế nào Con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai…Vậy làm thế nào người con dâu có thể thuyết phục được mẹ? Làm thế nào để mẹ "đừng buồn", đừng cảm thấy chạnh lòng khi cô đang được anh ấy yêu đến thế? Tất cả đều được nhà thơ diễn đạt bằng hàng loạt, ngôn từ, hình ảnh giản dị, nhẹ nhàng, gần gũi như cuộc sống này vốn thế và cần phải thế.

          Bài thơ xoay quanh mối quan hệ giữa ba nhân vật: Con- Anh ấy và Mẹ. Trong đó anh (vừa là chồng vừa là con) luôn là nhân vật trung gian được đem ra đối sánh trong quan hệ giữa anh ấy với conanh ấy với mẹ, để cán cân tình cảm luôn luôn nghiêng về phía mẹ một cách tuyệt đối. Kể cả khi con được anh ấy yêu và nhớ, thậm chí: Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ. Nhưng tất cả những gì con có được từ anh đều là những tình cảm không chắc chắn, không mấy bền chặt. Từ "có thể" được tác giả sử dụng sáu lần và thường được đặt trước các từ ngữ, hình ảnh diễn tả mức độ tình cảm của anh ấy đối với con, đã cho ta hiểu rõ điều đó. Cho nên dẫu tình cảm của anh đối với con nồng thắm tới mức nào thì cũng chỉ ở dạng thức giả thiết (có thể), và không có gì đảm bảo chắc chắn:

                   Anh ấy có thể yêu con một thời trai trẻ

                   Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ

          Chua chát hơn, người con dâu còn ý thức được rằng:

                   Những người đàn bà khác có thể thay thế con trong tim anh ấy

                    Anh ấy có thể sống với con suốt cuộc đời

                   Cũng có thể chia tay trong ngày mai, có thể

          Nói ra điều ấy hẳn cô cũng rất đau lòng và không bao giờ mong muốn. Nhưng đó là sự thật. Bởi lẽ, vợ không lấy người này có thể lấy người khác. Lấy nhau rồi, người ta vẫn có thể chia tay (vì bất cứ lý do nào) để kiếm tìm hạnh phúc mới. Người con dâu trong bài thơ này cũng thấu hiểu điều đó và chuẩn bị sẵn tâm lý. Cô ý thức được rằng dù cô đang được anh yêu đến thế, nhưng những người đàn bà khác có thể thay thế cô trong trải tim anh bất cứ lúc nào. Thậm chí, anh có thể chia tay cô trong ngày mai, có thể. Một câu thơ với hai từ "có thể", đặc biệt từ "có thể" ở cuối câu, được đặt sau dấu phẩy càng nhấn mạnh thêm sự mong manh của tình chồng vợ. Đó cũng là một sự thật.

          Về phần mình người con dâu- nhân vật xưng con luôn ý thức đúng thân phận nên rất khiêm tốn và chừng mực. Cho dù cô đang được anh yêu, yêu rất nhiều nhưng cô hiểu đó chỉ là tình yêu của một thời trai trẻ và ở một thời điểm nhất định (bây giờ) mà chưa có gì đảm bảo chắc chắn anh sẽ yêu cô suốt đời. Thế nên, trong lòng cô rất hiểu và luôn xác định rõ rằng:

                     Dẫu bây giờ con được yêu thế đấy

                   Con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai…

và:

                   Con chỉ là cơn gió nhẹ…Con chỉ là cơn gió mong manh

          Cách dùng từ "con chỉ là" và" con cũng chỉ là" được dùng tới bốn lần cho ta hiểu rõ hơn người con dâu đã rất đúng khi ý thức được tình cảnh và vị trí của mình trong gia đình và cụ thể hơn đó là vị trí thứ hai trong trái tim anh ấy. Vị trí ấy còn được định vị một cách vững chắc sau khi cô đưa ra đầy đủ những lý lẽ khá chặt chẽ để khẳng định một lần nữa: Dù thế nào, con chỉ là người thứ hai…Điều đó có nghĩa, bất luận thế nào, mẹ luôn chiếm vị trí số một trong trái tim anh. Nói như thế không có nghĩa cô coi nhẹ tình cảm vợ chồng, không tin vào tình yêu của chồng. Cũng không phải cô quá đề cao mẹ mà thiêng liêng hóa tình mẫu tử. Những điều cô giãi bày, sẻ chia rất đúng với thực tế, đúng với tâm trạng và suy nghĩ của những người làm mẹ, làm con. Điều đó giúp ta hiểu vì sao bài thơ luôn là niềm yêu thích với độc giả.

          Sự khéo léo và tinh tế của người làm dâu trong bài thơ này là: cô luôn đặt tình yêu của anh với mình bên cạnh tình yêu của anh với mẹ như một sự đối lập. Từ "nhưng" được sử dụng tới bốn lần nhằm đối sánh giữa một bên là tình cảm nhất thời, rất mong manh, có thể thay đổi. Và một bên là tình cảm bền chặt, suốt đời  không bao giờ thay đổi. Điều đó cho thấy cô là một người biết lý lẽ và rất hiểu đạo lý. Là con, cô hiểu rõ công sinh thành, dưỡng dục của mẹ đối với anh, dòng máu, tình yêu của mẹ luôn chảy trong huyết quản của anh: Hình bóng mẹ lồng vào tim anh ấy. Thế nên, ở đâu, đi đâu, anh luôn tìm về với mẹ như về với cội nguồn, bởi một lẽ thật đơn giản: Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh. Với anh, tình mẫu tử là tình cảm bền chặt vĩnh viễn và thiêng liêng không gì có thể đánh đổi. Nói ra điều ấy, hẳn là người phụ nữ rất yêu chồng, hiểu chồng, nên cô luôn cảm nhận được: có một tình yêu âm ỉ cháy/ Anh ấy chỉ dành cho mẹ, mẹ ơi!.  Đó là lý do để cô khẳng định tới hai lần rằng: suốt đời anh yêu mẹ, mẹ ơi!. Trong khi cô cũng hiểu tình yêu của anh với cô (tình cảm vợ chồng) mong manh như làn gió nhẹ và có thể tan biến bất cứ lúc nào.  

           Thật ra, tình chồng vợ và tình mẫu tử đều là những tình cảm phải trân trọng, nhưng đó là hai tình cảm khác nhau nên không thể đánh đồng, cũng không thể tách biệt rạch ròi. Sự tách biệt một cách tương đối giữa hai tình cảm này (như đã phân tích ở trên), cũng chỉ là một cách để các thành viên trong gia đình hiểu đúng vai trò, vị trí của mình mà hài hòa các mối quan hệ, làm cho tình cảm gia đình ngày càng tốt lên mà thôi.

          Bài thơ "Người đàn bà thứ hai" của Phan Thị Vĩnh Hà là một bài thơ hay và mang đậm chất nhân văn. Tuy những điều tác giả đề cập đến có thể không thật mới mẻ, trong suy nghĩ người ta vẫn hiểu, và trong thực tế vốn là như vậy, nhưng đọc lên ta vẫn thấy xúc động lạ kì? Bởi bài thơ được viết bằng một trái tim nhân hậu, bao dung, vị tha và một tình yêu đặc biệt đối với chồng và với chính người mẹ đã sinh ra anh. Bằng lời lẽ, hình ảnh giản dị và giọng thơ chân thành, tha thiết, Phan Thị Vĩnh Hà đã hóa thân làm người con dâu để đối thoại với mẹ chồng, với chồng và với độc giả về một vấn đề rất khó nói nhưng vô cùng ý nghĩa, đó là vấn đề nàng dâu mẹ chồng. Chính vì lẽ ấy, bài thơ sẽ mãi là hành trang cần thiết không chỉ cho những người làm con và làm mẹ.

                                                                     

 

                                                                                       

 

 

                                                                         

 

1 2 3 4  Sau»